Chào mừng đến với .: Diễn Đàn Y Khoa :..
Kết quả 1 đến 2 của 2
  1. #1
    Administrator
    Ngày tham gia
    Jan 2008
    Đang ở
    Miền đông đất đỏ
    Bài viết
    1,621

    Mặc định Sinh lý hô hấp, phần 2: Làm thế nào không khí vào được phế nang

    LÀM THẾ NÀO KHÔNG KHÍ VÀO ĐƯỢC PHẾ NANG



    Hình 1 là sơ đồ tối giản của phổi. Đường dẫn khí được minh họa bằng một ống duy nhất, gọi là khoảng chết giải phẫu (anatomic dead space). Ống này dẫn đến vùng trao đổi khí của phổi (respiratory zone), được bao bọc bởi hàng rào khí – máu và máu mao mạch phổi. Mỗi lần hô hấp, có khoảng 500 mL khí vào phổi. Chú ý tỉ lệ rất nhỏ của khoảng chết giải phẫu so với tổng thể tích phổi và thể tích rất nhỏ của máu mao mạch so với thể tích khí phế nang.

    1. Các thể tích phổi:

    Trước khi khảo sát sự di chuyển của khí vào phổi, cần nói sơ lược về các thể tích tĩnh của phổi. Một số thể tích có thể đo được bằng hô hấp ký (hình 2). Trong kỳ thở ra, phần chuông của hô hấp ký đi lên và cây viết đi xuống, tạo ra một biểu đồ di chuyển. Đầu tiên là thở bình thường, tiếp theo đối tượng thực hiện hít sâu tối đa và sau đó là thở ra tối đa. Thể tích khí thở ra này được gọi là dung tích sống (vital capacity). Tuy vậy, khi thở ra tối đa, vẫn còn 1 ít không khí còn lại bên trong phổi, thể tích này được gọi là dung tích cặn (residual volume). Thể tích khí còn lại trong phổi sau khi thở ra bình thường được gọi là dung tích cặn chức năng (functional residual capacity).



    Hình 2: Các thể tích của phổi.

    Dung tích cặn chức năng và dung tích cặn không thể đo được bằng hô hấp ký. Để đo được 2 thể tích này, có thể sử dụng kỹ thuật pha loãng khí (hình 3).

    Đối tượng được nối với 1 máy hô hấp ký chứa sẵn 1 nồng độ đã biết khí Helium, sau vài lần hô hấp, nồng độ khí Helium trong máy hô hấp ký và trong phổi bằng nhau.



    Hình 3: Đo dung tích cặn chức năng bằng phương pháp pha loãng khí Helium.

    Vì không có thất thoát khí Helium, lượng khí Helium trước bão hòa là:

    C1 x V1.

    Và bằng với lượng khí sau bão hòa:

    C2 x (V1 + V2)

    Như vậy:
    V2 = V1 (C1 – C2)/C2

    C1: Nồng độ Helium trước khi bão hòa.
    V1: Thể tích Helium trước khi bão hòa.
    V2: Dung tích cặn chức năng.
    C2: Nồng độ Helium sau khi bão hoà.

    Ngoài cách này, người ta còn có thể đo dung tích cặn chức năng bằng máy ghi thể tích (plethysmograph). Đây là một hộp kín khí lớn, giống một buồng điện thoại, đối tượng ngồi bên trong (hình 4). Tại thời điểm cuối của hô hấp bình thường, đối tượng được yêu cầu hô hấp gắng sức. Khi hít vào tối đa, phổi sẽ nở và tăng thể tích, trong khi đó, thể tích của hộp khí giảm, dẫn đến áp suất bên trong tăng lên. Theo định luật Boyle, tích của áp suất và thể tích là một hằng số (ở cùng 1 nhiệt độ).



    Hình 4: Máy ghi thể tích (plethysmograph).


    Gọi, V1 là thể tích trước khi hô hấp của hộp, P1 là áp suất trước khi hô hấp của hộp.

    dV (deltaV) là thay đổi thế tích trong hộp (hoặc trong phổi).

    Vậy, theo định luật Boyle:
    P1V1 = P2 (V1 - dV)

    Từ đây có thể tính được dV.

    Gọi P3, P4 là áp suất của miệng trước và sau hít vào gắng sức, và V2 là dung tích cặn chức năng, theo định luật Boyle:

    P3V2 = P4(V2 + dV).

    Phương pháp sử dụng máy ghi thể tích đo tổng thể tích khí trong phổi, bao gồm cả khí bị giữ trong đường dẫn khí, không trao đổi với bên ngoài. Trong khi đó, phương pháp pha loãng khí Helium chỉ xác định thể tích khí trao đổi. Ở người trẻ, hai thể tích này tương đương, nhưng ở những bệnh nhân có bệnh lý phổi, thể tích khí trao đổi có thể nhỏ hơn tổng thể tích phổi do lượng khí bị ứ lại trong đường hô hấp thường cao hơn.

    2. Thông khí:

    Cho rằng thể tích mỗi lần thở ra bình thường là 500 ml và nhịp thở là 15 lần/phút, vậy tổng thể tích khí thở ra trong 1 phút là 500 x 15 = 7500 ml/phút. Chỉ số này được gọi là Thông khí tổng (Total Ventilation). Thể tích khí hít vào lớn hơn thể tích khí thở ra 1 chút vì Oxy được lấy vào nhiều hơn Cacbonic thải ra.

    Tuy vậy, không phải tất cả không khí qua mũi đều đến được vùng trao đổi khí trong phổi. Cứ mỗi 500 ml khí hít vào thì 150 ml giữ lại ở khoảng chết giải phẫu. Vì thế, thể tích thực của không khí vào đến vùng hô hấp mỗi phút là (500 – 150) x 15 = 5250 ml/phút. Chỉ số này được gọi là Thông khí phế nang (Alveolar ventilation) và là chìa khoá quan trọng vì nó là thể tích khí có thể được sử dụng cho thông khí.

    Thông khí tổng có thể dễ dàng đo được bằng cách thở qua một hộp có van, có vách ngăn cách khí hít vào và khí thở ra, sau đó đo thể tích của túi khí thở ra, ta sẽ có chỉ số thông khí tổng. Chỉ số thông khí phế nang khó xác định hơn, đầu tiên cần tính thể tích khoảng chết và thông khí khoảng chết trong 1 phút, sau đó lấy thông khí tổng trừ thông khí khoảng chết sẽ được thông khí phế nang.

    Gọi V là thể tích
    T: hô hấp bình thường (tidal).
    D: Khoảng chết (dead space).
    A: Phế nang (alveolar).
    n: Tần số hô hấp.



    Hình 5: Thể tích khí hô hấp bình thường (VT) là hỗn hợp khí của khoảng chết (VD) và khí phế nang (VA)

    Như vậy ta có:


    V có chấm trên đầu là thể tích trong 1 đơn vị thời gian.

    Khó khăn của phương pháp này là đo thể tích của khoảng chết giải phẫu không đơn giản.

    Một cách khác để đo thông khí phế nang ở người bình thường là từ nồng độ Cacbonic trong khí thở ra. Vì không có trao đổi khí trong khoảng chết nên tất cả cacbonic thu được là từ khí phế nang. Như vậy, ta có:


    %CO2/100 được gọi là phân suất nồng độ Cacbonic (Fractional concentration), kí hiệu là FCO2, phân suất nồng độ CO2 tỉ lệ với áp suất phần của CO2, vậy:

    PCO2 = FCO2 x K


    Ở người bình thường, PCO2 của khí phế nang và động mạch gần như bằng nhau, nên có thể sử dụng PCO2 trong máu động mạch để xác định thông khí phế nang. Quan hệ giữa thông khí phế nang và PCO2 là cực kỳ quan trọng. VD: nếu thông khí phế nang còn một nửa, PCO2 trong phế nang và động mạch sẽ tăng gấp đôi.

    3. Khoảng chết giải phẫu:

    Đây là thể tích của đường dẫn khí, giá trị bình thường vào khoảng 150 ml, thể tích này tăng lên khi hít vào gắng sức vì sự co kéo của nhu mô phổi lên phế quản. Khoảng chết giải phẫu cũng phụ thuộc vào kích thước và tư thế của chủ thể.

    Khoảng chết giải phẫu được đo bằng phương pháp Fowler. Chủ thể thở qua một hộp có van, có một ống tại môi, liên tục phân tích nồng độ Nitơ. Cho chủ thể thở Oxy 100%, trong kỳ hít vào, nồng độ Nitơ sẽ giảm rất nhanh xuống đến gần 0%, và khoảng chết được thay thế bởi Oxy 100%. Sau khi bắt đầu thở ra, nồng độ Nitơ sẽ tăng dần lên, đến 1 lúc nào đó sẽ không thay đổi, người ta gọi đây là pha bình nguyên (alveolar plateau), lúc này khí thở ra là khí trong phế nang.



    Hình 6: Phương pháp Fowler đo thể tích khoảng chết giải phẫu bằng phân túch Nitơ nhanh (rapid Nitrogen analyzer.)

    Khoảng chết được tính bằng cách phân chia nồng độ Nitơ khi thở ra bằng 1 đường dọc sao cho diện tích của vùng A bằng vùng B, thể tích của khoảng chết là giao điểm của đường này với trục hoành.


    4. Khoảng chết sinh lý:

    Một cách khác để tính khoảng chết là phương pháp Bohr. Vì CO2 thở ra chỉ xuất phát từ khí phế nang nên:


    Vì áp suất phần của khí tỉ lệ với nồng độ nên:


    Vì áp suất phần CO2 trong phế nang gần bằng áp suất phần CO2 trong động mạch nên:


    Cần phải lưu ý rằng phương pháp Fowler và phương pháp Bohr đo 2 thể tích khác nhau. Phương pháp Fowler đo thể tích của đường dẫn khí đến nơi xảy ra sự khuếch tán nhanh của khí hít vào với khí có sẵn trong phổi. Thể tích này được xác định bởi dạng hình học của đường dẫn khí, vì thế, được gọi là khoảng chết giải phẫu.

    Trong khi đó, phương pháp Bohr đo thể tích của vùng phổi không thải Cacbonic. Vì đây là đo lường chức năng nên thể tích mà phương pháp Bohr đo đạc được gọi là khoảng chết sinh lý. Ở người bình thường, khoảng chết sinh lý và giải phẫu gần như bằng nhau. Nhưng ở những người có bệnh lý hô hấp, khoảng chết sinh lý có thể lớn hơn khoảng chết giải phẫu do hiện tượng mất chức năng của nhu mô phổi.

    5. Sự khác biệt của thông khí theo vùng:

    Để xác định sự khác biệt thông khí theo từng vùng của phổi, người ta sử dụng khí Xenon phóng xạ. Khi Xenon – 133 đi vào phổi, phóng xạ của nó sẽ được ghi lại bằng 1 máy đếm hoặc 1 camera. Bằng cách này, người ta có thể xác định thể tích khí Xenon ở các vùng phổi khác nhau.



    Hình 7: Thông khí trên 1 đơn vị thể tích lớn nhất ở vùng gần đáy phổi và giảm nhanh khi đi về phía đỉnh phổi.

    Khái niệm chính:

    1. Thể tích phổi không thể đo được bằng hô hấp ký đơn thầun bao gồm: Tổng thể tích phổi (TLC), dung tích cặn chức năng (FRC) và dung tích cặn (RV). Các thể tích này có thể đo được bằng phương pháp pha loãng Helium hay bằng máy ghi thể tích (plethysmograph).

    2. Thông khí phế nang là thể tích của không khí vào vùng hô hấp trong 1 phút. Có thể xác định thông khí phế nang từ biểu thức tính: VCO2 x 100/%CO2.

    3. Nồng độ CO2 trong khí phế nang và trong máu động mạch tỉ lệ nghịch với thông khí phế nang.

    4. Khoảng chết giải phẫu là thể tích của đường dẫn khí và có thể đo được bằng nồng độ Nitơ sau khi hít vào bằng Oxy 100%.

    5. Khoảng chết sinh lý là thể tích phổi không thải cacbonic. Thể tích này đựoc đo bằng phương pháp Bohr.

    6. Vùng thấp hơn của phổi được thông khí tốt hơn vùng ở trên do ảnh hưởng của trọng lực lên phổi.

    Nguồn: John.B.West, Respiratory physiology: The essentials.

    Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
    Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

    (Mãn Giác Thiền Sư)

    Một ngày nào đó khi bạn thấy mình rất tự tin trong công việc, thấy hết sức thoải mái trong đơn vị điều trị của mình, thấy mình hiểu biết rất nhiều về chuyên môn của mình, có thể đó là ngày nghề nghiệp chuyên môn của bạn bắt đầu đi xuống dốc. Vì bạn không còn thấy sợi tơ ranh giới mong manh giữa cái đúng cái sai trong y khoa, bạn không còn thấy được chân trời kiến thức lúc nào cũng vẫn còn rất xa…
    (Koala)

  2. #2
    Thành viên mới
    Ngày tham gia
    Apr 2010
    Bài viết
    15

    Mặc định

    Em xin mạn phép góp thêm k= 0,863 , vì sao thế thì em chịu.

    Diễn đàn Y Khoa ^^!

 

 

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Các Chủ đề tương tự

  1. Nang buồng trứng
    Bởi albatros trong diễn đàn Sản phụ khoa
    Trả lời: 1
    Bài viết cuối: 28-09-2013, 18:20
  2. Cẩm nang dành cho sinh viên YTCC và YHDP
    Bởi [Cactus] trong diễn đàn Ebooks và links
    Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 11-01-2013, 22:43
  3. bệnh thận đa nang
    Bởi Hoatieu trong diễn đàn Thận
    Trả lời: 1
    Bài viết cuối: 16-12-2011, 20:21
  4. Tiên lượng u nang buồng trứng.
    Bởi saodemgl trong diễn đàn Sản phụ khoa
    Trả lời: 2
    Bài viết cuối: 29-05-2010, 15:11

Đánh dấu

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •